Luật sư gia đình
Chúng tôi là hãng luật tập trung các luật sư xuất thân trong các Gia Đình yêu nghề luật. Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật luật cung cấp tất cả các dịch vụ pháp lý tổng hợp trên mọi lĩnh vực nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý cho mọi cá nhân, tổ chức và thân chủ.
                                   LS TRẦN MINH HÙNG - Trưởng Hãng Luật Gia Đình
 
 
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
TRANH CHẤP THỪA KẾ CÓ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Những rủi ro pháp lý doanh nghiệp thường gặp
Luật sư chuyên về kinh tế
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tranh Tụng Tại Tphcm
luật sư tư vấn nhà đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Tư Vấn Kỹ Năng Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại
luật sư nhà đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư chuyên nhà đất tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
luật sư nhà đất
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Hãng Luật Uy Tín Về Nhà Đất Thừa Kế Tại Việt Nam
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư nhà đất
luật sư tư vấn
luật sư doanh nghiệp
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình
luật sư doanh nghiệp
luật sư doanh nghiệp
luật sư thừa kế
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư tư vấn chia tài sản khi ly hôn
luật sư thừa kế
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư ly hôn
luật sư doanh nghiệp
luat su tu van ly hon
luật sư nhà đất
luat su nha dat
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư trả lời báo chí
luật sư nhà đất
luật sư riêng cho công ty
luật sư tư vấn tại tphcm
luật sư bào chữa tại tòa về kinh tế
luật sư doanh nghiệp
luật sư nhà đất
luật sư riêng
hình báo
ls
kinh tế
tranh tụng
nhà đất
hình tu van tại nhà
luật sư nhà đất
hung1
hinh luat su
luat su
luat su
luat su
Hình 1
Hình 2
Hình 3

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ

Luật sư tư vấn tranh chấp thừa kế tại tphcm
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
luật sư thừa kế
Luật sư giỏi chuyên tranh tụng tại tòa án
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
luật sư công ty
luật sư thừa kế nhà đất
Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Hợp Đồng
luật sư chuyên tư vấn chia thừa kế
luật sư nhà đất thừa kế ly hôn doanh nghiệp
luật sư tư vấn ly hôn
luật sư nhà đất
luật sư thừa kế
ls
Luật sư tư vấn nơi giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

 1. Tranh chấp hợp đồng thương mại

Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa do một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

Tóm tắt câu hỏi:

X là một công ty chuyên kinh doanh trang thiết bị văn phòng ở một tỉnh miền núi yêu cầu Y là công ty kinh doanh cùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đã từng mua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngày xác định qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giao hàng và phương thức thanh toán. Y không trả lời và không giao hàng. X đòi khởi kiện và dẫn chứng: trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản ” Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồng này”, Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cùng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanh toán…X cho rằng mình đã trả thêm 0,1% nên có quyền đòi hỏi như vậy. tranh chấp nói trên được khởi kiện ra tòa, vậy ai sẽ là người thắng kiện, trách nhiệm của bên vi phạm sẽ như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 24 Luật Thương mại 2005 về Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

Theo quy định này thì hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Vậy việc X gửi cho Y 1 bức thư yêu cầu về việc giao hàng hóa thì coi như hành vi đề nghị giao kết hợp đồng.

Y không trả lời lại đề nghị giao kết hợp đồng của X. Điều 404 Khoản 2 “Bộ luật dân sự 2015” : “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.

Tuy nhiên, cũng không thể chỉ dựa vào sự im lặng để kết luận về việc hợp đồng có được giao kết không. Mà xét trong thực tiễn vụ việc này giữa Công ty X và Công ty Y đã từng kí kết và thực hiện hoạt động mua bán bàn ghế văn phòng nhiều lần trước

”Công ty X yêu cầu Y là công ty kinh doanh cùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đã từng mua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngày xác định qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giao hàng và phương thức thanh toán”.

Hơn nữa trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản “ Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồng này“

Như vậy,có thể thấy rằng trong yêu cầumà công ty X gửi cho công ty Y có các nội dung về mặt hàng, số lượng hàng hóa. Nhưng không nói đến vấn đề giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng. Tuy nhiên giữa hai bên đã có thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập.

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật. ( Điều 12 Luật Thương mại)

Như vậy, trong yêu cầu mà X đưa ra thì những vấn đề về giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng có thể coi là được thực hiện theo thói quen thương mại giữa hai bên và sự im lặng của Y làm cho X sẽ hiểu là hàng vẫn sẽ được giao như những hợp đồng trước đó.

Vậy Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cũng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanh toán.

Với những căn cứ nêu trên thì có thể thấy rằng lập luận của Y sẽ là không hợp lý, không có căn cứ pháp luật và không được chấp nhận khi giải quyết tranh chấp.

Khi các bên đưa tranh chấp nêu trên ra Tòa án thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005 mà đưa ra bản án buộc bên vi phạm hợp đồng – bên Y thực hiện các nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, Bên vi phạm sẽ phải chịu một trong các loại chế tài trong thương mại (Điều 292 Luật Thương Mại )

– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

-Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

– Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

– Huỷ bỏ hợp đồng.

– Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.

Thứ hai, bên vi phạm có thể bị phạt vi phạm hợp đồng nếu có căn cứ tại Điều 300 Luật Thương Mại “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.

Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.

Thứ ba, bên vi phạm sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;

2. Có thiệt hại thực tế;

2. Giải quyết tranh chấp tín dụng

1. TÍN DỤNG VÀ TRANH CHẤP TÍN DỤNG

1.1. Hợp đồng tín dụng

Khoản 14, Điều 4 về "Giải thích từ ngữ", Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 quy định "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền thao nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Các nghiệp vụ cấp tín dụng khác như tái chiết khấu, ứng trước, mua có bảo lưu quyền truy đòi (trừ các khoản mua có kỳ hạn) công cụ chuyển phát hành thẻ tín dụng, nhượng và giấy tờ có giá khác. Dưới đây gọi là tín dụng và hợp đồng tín dụng thay vì cấp tín dụng và hợp đồng cấp tín dụng không chính xác theo quy định của pháp luật hiện hành (vì trước đây gọi sai riêng hợp đồng cho vay là hợp đồng tín dụng, nên đã buộc phải gọi hợp đồng tín dụng nói chung là hợp đồng cấp tín dụng).

Đối với các TCTD, hợp đồng bảo lãnh ngân hàng được điều chỉnh theo quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối với bảo lãnh ngân hàng, đồng thời theo quy định chung tại điều 335 về "Bảo lãnh", Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Các quan hệ tín dụng khác ngoài hợp đồng cho vay và bảo lãnh ngân hàng như chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán thì không được quy định trong BLDS năm 2015, mà chủ yếu được hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật. Trường hợp TCTD cấp tín dụng không đúng với quy định của luật thì có thể bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 về "Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo", BLDS năm 2015. Chẳng hạn như việc cấp tín dụng cho vay dưới hình thức đặt cọc hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng để mua, thuê nhà như đã xảy ra trong vụ án tại Ngân hàng Xây dựng.

1.2. Tranh chấp tín dụng

Tranh chấp tín dụng được hiểu là tranh chấp về các hợp đồng tín dụng gồm hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.

Đối với hợp đồng cho vay, thì tranh chấp có thể là nợ gốc, nợ lãi, lãi suất, về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng cho vay như điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các nội dung khác. Tuy nhiên, trên thực tế hợp đồng cho vay nói riêng, hợp đồng tín dụng nói chung, thường xảy ra các tranh chấp giống nhau tập trung vào số nợ gốc, các loại lãi suất, phí và việc xử lý tài sản bảo đảm.

Đối với các TCTD thì hợp đồng cho vay được điều chỉnh theo các quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng, đồng thời theo quy định chung tại Điều 463 về “Hợp đồng vay tài sản”, BLDS năm 2015.

Riêng đối với hợp đồng bảo lãnh ngân hàng, khi các TCTD phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay, thì sẽ chuyển sang ghi nợ cho bên được bảo lãnh, do đó trở thành nghĩa vụ như đối với một hợp đồng cho vay. Khi đó lãi suất đối với nợ gốc trong hạn, lãi suất đối với nợ gốc quá hạn, lãi suất đối với nợ lãi quá hạn và lãi suất đối với khoản nợ chậm thi hành án sẽ được xử lý hoàn toàn giống với hợp đồng cho vay của các TCTD.

Trường hợp hợp đồng tín dụng vô hiệu thì hậu quả pháp lý là không tính lãi cho vay hay phí bảo lãnh theo quy định tại Điều 131 về “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, BLDS năm 2015.

1.3. Tranh chấp bảo đảm tín dụng

Ngoài ra, quan hệ tín dụng thường gắn với tài sản bảo đảm tín dụng, nên cũng thường xảy ra tranh chấp về việc bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm. Điều 292 về “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”, BLDS năm 2015 quy định có 9 bên pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Việc bảo lãnh có thể là bảo lãnh ngân hàng hoặc bảo lãnh của pháp nhân hay cá nhân khác.

Tuy nhiên trong quan hệ tín dụng thì chỉ liên quan đến 5 biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp và cũng được gọi là các hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng tín dụng không liên quan trực tiếp đến 3 biện pháp ký cược, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Riêng biện pháp đặt cọc, có thể áp dụng trong quan hệ tín dụng tuy nhiên gần như không xuất hiện trên thực tế.

Vì bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm nhưng đồng thời cũng là một hợp đồng tín dụng, nên có thể lại sử dụng các biện pháp bảo đảm khác như ký quỹ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trong quan hệ giữa các bên.

1.4. Mối quan hệ giữa tín dụng và bảo đảm

Trường hợp chỉ có tranh chấp về hợp đồng bảo đảm, không có tranh chấp về tín dụng, thì vẫn phải khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chứ không khởi kiện độc lập hợp đồng bảo đảm, vì tín dụng là hợp đồng chính, bảo đảm là hợp đồng phụ. Hay nói cách khác, hợp đồng bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng tín dụng vì là một bộ phận của hợp đồng tín dụng.

Dù tín dụng là hợp đồng chính, nhưng nếu bị vô hiệu thì không dẫn đến việc vô hiệu hợp đồng bảo đảm là hợp đồng phụ theo quy định tại khoản 2, Điều 407 về “Hợp đồng vô hiệu”, BLDS năm 2015.

2. CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÍN DỤNG

2.1. Phương thức giải quyết tranh chấp

Cũng giống như các loại tranh chấp hợp đồng khác, các tranh chấp tín dụng có thể là tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp kinh doanh, thương mại, đều có thể giải quyết bằng các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án theo quy định của pháp luật. Không có quy định cụ thể của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.

Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại

2.2. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

Riêng với phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì áp dụng đối với trường hợp các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên có hoạt động thương mại và tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo quy định tại Điều 2 về “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài”, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Cho đến nay, chưa có quy định nào bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, mà chỉ là quy định các bên có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như Luật thương mại năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật các Công cụ chuyển nhượng năm 2006, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Bộ luật hàng hải năm 205, v.v...

Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp theo quy định tại khoản 1, Điều 5 về “Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài”, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Kết hợp các điều kiện trên thì thực chất chỉ có duy nhất một trường hợp giải quyết bằng trọng tài, đó là lý do các bên thỏa thuận đối với tranh chấp trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại. Như vậy tranh chấp hợp đồng cho vay tiêu dùng của các TCTD cũng được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận.

Các bên có thể chỉ thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài mà không cần phải ghi chính xác tên của Trung tâm Trọng tài thương mại trên thực tế. Trường hợp các bên vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Toà án thì có quyền khởi kiện ra trước một trong hai bên Trọng tài hoặc Toà án giải quyết theo quy định tại khoản 4, Điều 2 về “Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Trọng tài, Toà án theo quy định Luật Trọng tài thương mại”, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán, TANDTC “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại”.

Nếu hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm của bên thứ ba, thì chỉ giải quyết được bằng Trọng tài khi tất cả các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

2.3. Giải quyết tranh chấp bằng Toà án:

Tranh chấp tín dụng được giải quyết tại Toà án thì thuộc quyền giải quyết của Toà nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định tại điểm a và b, khoản 1, Điều 33 về “Thẩm quyền của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”, Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và điểm a và b, khoản 1, Điều 35 về “Thẩm quyền của TAND cấp huyện”, BLTTDS năm 2015, trừ trường hợp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Việc giải quyết tranh chấp bằng Toà án không phụ thuộc vào việc thoả thuận của các bên. Luật quy định, Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, hoặc có trụ sở có thẩm quyền giải quyết, trừ trường hợp các bên có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toá án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 39 về “Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ”, BLTTDS năm 2015.

Riêng đối với Toà kinh tế thì khác với thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là chỉ giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, theo quy định tại khoản 1, Điều 30 về “Những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”, BLTTDS năm 2015.

3. Tòa án hay Trọng tài giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh

Câu hỏi tình huống Tòa án hay trọng tài giải quyết tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh:

Doanh nghiệp A có trụ sở tại Việt Nam ký kết 1 hợp đồng mua bán hàng hóa với doanh nghiệp B có trụ sở tại Singapore, Trong hợp đồng các bên thỏa thuận như sau: ” Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng các biện pháp thương lượng, nếu bất thành, tranh chấp sẽ được giải quyết bằng Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam theo quy tắc tố tụng trọng tài của UNCITRAL có hiệu lực tại thời điểm đó. Nếu các bên không đồng ý với phán quyết của trọng tài thì tranh chấp sẽ được giải quyết chung thẩm tại Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam. Như vậy:

1) Thỏa thuận trên có phải là ” thỏa thuận trọng tài” hay không? Giải thích?

2) Giả sử khi có tranh chấp hợp đồng, doanh nghiệp B nên lựa chọn Tòa án hay Trọng tài thương mại giải quyết? Nêu không gửi đơn kiện lên trọng tài như đã thỏa thuận mà gửi lên Toa án nhân dân TP. Hà Nội nơi có trụ sở của doanh nghiệp A. Tòa án nhân dân TP. Hà Nội thì có được giải quyết không?

Trả lời:

1. Thỏa thuận trên có phải là “thỏa thuận trọng tài” hay không?

Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định:

2. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh.

Theo quy định trên thì thỏa thuận trọng tài được hình thành dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, có sự thống nhất giữa ý chí (mong muốn bên trong) và sự thể hiện ý chí (hình thức bên ngoài) về việc sử dụng hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp. Điều này được đưa ra xuất phát từ bản chất của sự thỏa thuận. Các bên lựa chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh. Do đó đối với trường hợp của bạn, đây là thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp theo quy định tại Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010. “1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết hay không?

Theo quy định tại Điều 6 Luật trọng tài 2010 “Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”

Và “Điều 18. Thoả thuận trọng tài vô hiệu

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.”

Theo quy định trên nghĩa là khi đã có thỏa thuận thì việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của TTTM, nếu một trong các bên khởi kiện ra Tòa thì Tòa án phải từ chối thụ lý, chỉ khi thỏa thuận này không có hiệu lực thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án. Theo quy định trên, Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận này vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Như vậy, ngoài trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM 2010 thì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được cũng được xem là một trường hợp thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực. Vấn đề này được quy định tại Khoản 3,4,5 Điều 43 Luật TTTM 2010, đặc biệt Điều 4 Nghị quyết 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định cụ thể, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong 5 trường hợp:

+ Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp;

+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lực chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác thay thế;

+ Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

+ Các bên có thỏa thuận giải quyết tại một trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế;

+ Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM 2010 nhưng khi phát sinh tranh chấp người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

4. Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Rủi ro khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tại tòa án

Khi phát sinh tranh chấp, nếu các bên không thương lượng, hòa giải thành công và không có cơ hội giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại, các bên phải đưa vụ việc ra tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhưng ở đó, có nhiều rủi ro pháp lý sẽ bủa vây nguyên đơn.

* Rủi ro bị từ chối thụ lý đơn kiện vì lý do hết thời hiệu khởi kiện

Điều 429 BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Không ít rủi ro pháp lý đã diễn ra trong thực tế liên quan đến điều khoản này, bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, người Việt thường cả nể nhau trong kinh doanh và vì vậy thường không quyết định khởi kiện ngay khi đối tác vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Văn hóa người Việt cũng quan niệm “vô phúc đáo tụng đình” nên rất dè dặt khi khởi kiện. Chỉ khi diễn biến vụ việc đi quá ngưỡng chịu đựng của bên bị xâm hại, họ mới quyết định khởi kiện và khi đó, có thể đã quá thời hạn hai năm.

Thứ hai, nhiều người Việt quan niệm “công lý không có thời hạn” và không ý thức được rằng sau hai năm, nếu họ không khởi kiện thì sẽ mất khả năng đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, ngay cả trong trường hợp một doanh nhân có tinh thần sẵn sàng khởi kiện và hiểu được hết nội dung của điều luật nêu trên, thì không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định được chính xác thời điểm nào quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại; điều thường xảy ra khi nghĩa vụ hợp đồng được thực thi thành nhiều đợt; khiếm khuyết của sản phẩm khó phát hiện ngay. Thời điểm lợi ích bị xâm hại cũng khó xác định đối với các vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng.

* Rủi ro trong xác minh, củng cố chứng cứ vụ án dân sự

Khi phát sinh tranh chấp hợp đồng, nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn. Việc xác minh, củng cố chứng cứ nhằm tìm ra sự thật là một việc khó khăn nói chung và liên quan đến tất cả các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng; nhưng công việc này càng khó khăn với nguyên đơn – vốn không có quyền lực nhà nước để buộc một chủ thể nào đó cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan. Mà chứng cứ vụ án thì nằm rải rác ở nhiều chủ thể liên quan, trong đó nhiều chứng cứ do bên bị đơn nắm giữ và vì do có lợi ích đối kháng, nên bị đơn sẽ tìm cách né tránh cung cấp các chứng cứ có lợi cho nguyên đơn.

Bởi vậy, các hệ thống pháp luật tố tụng dân sự trên thế giới, trong đó có BLTTDS năm 2015 của Việt Nam, đều quy định tòa án có trách nhiệm giúp đỡ các đương sự thu thập chứng cứ vụ án dân sự.

Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng ở Việt Nam cho thấy, tòa án chưa được trao đầy đủ công cụ, sức mạnh cần thiết để hoàn thành bổn phận trợ giúp này. Bởi Điều 308 BLHS năm 1999 hiện nay chỉ mới quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi từ chối cung cấp tài liệu (một loại chứng cứ bằng văn bản), trong khi chứng cứ vụ án dân sự còn bao gồm nhiều loại khác.

Và ngay cả việc từ chối cung cấp tài liệu, BLTTDS năm 2015 lại tự giới hạn khả năng trừng phạt thêm một lần nữa. Theo đó, người không thi hành quyết định của tòa án về việc cung cấp chứng cứ sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền (khoản 1); việc truy cứu trách nhiệm hình sự còn tùy theo mức độ vi phạm. Hay nói cách khác, việc chống lại quyết định có hiệu lực của tòa án không tự động áp dụng Điều 304, Điều 308 BLHS năm 1999.

* Rủi ro từ khai man, tạo chứng cứ giả

Thực tiễn tố tụng dân sự cho thấy, các đương sự có thể khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả mạo gây khó khăn cho tòa án khi tìm hiểu sự thực, dẫn tới kết quả xét xử bị sai lệch. Để hạn chế hiện tượng này, BLHS năm 1999 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi “thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án” (Điều 300) và hành vi “khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật” (Điều 307).

Tuy nhiên, hai tội danh nêu trên chỉ áp dụng đối với “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự” (Điều 300) và “người giám định, người phiên dịch, người làm chứng” (Điều 307) mà không áp dụng khi bản thân đương sự có hành vi này.

Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hai nhóm hành vi nêu tại Điều 300 và Điều 307 đối với bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc “một người không bị buộc đưa ra lời khai buộc tội (hình sự) lại chính mình”, nhưng sự mở rộng để áp dụng máy móc nguyên tắc này sang các vụ án dân sự là không phù hợp và dẫn đến đương sự trong các vụ án dân sự đã lạm dụng thực hiện hai nhóm hành vi nêu trên mà không phải chịu trách nhiệm hình sự nào. Điều này giải thích tại sao trong các vụ án dân sự ở Việt Nam, đương sự không ngại khai báo gian dối, nhất là trong các vụ án có giá trị tranh chấp lớn.

Không hiếm trường hợp, các bên tranh chấp hợp đồng đã ngụy tạo các giấy biên nhận, giấy giao nhận hàng hóa, nợ viết tay và giả mạo chữ ký của đối tác. Sở dĩ hiện tượng ngụy tạo này xảy ra nhiều, vì Điều 266 BLHS năm 1999 chỉ quy định về: “Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức” mà không hề quy định tội sửa chữa, sử dụng giấy xác nhận giả của cá nhân; Điều 267 quy định tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức mà không bao gồm hành vi làm giả giấy tờ của cá nhân. Theo ngôn từ của Điều 266, chỉ có giấy tờ của cơ quan nhà nước mới được chú trọng, còn giấy tờ, con dấu của doanh nghiệp chưa được đề cập trực tiếp: “Người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Hành vi khai man, sửa chữa, thêm bớt làm sai lệch chứng cứ trong các vụ án dân sự thường được pháp luật hình sự trên thế giới coi là hành vi phỉ báng tòa án và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với nhóm hành vi này.

- Rủi ro sau khi thắng kiện

Khi một hợp đồng xảy ra tranh chấp, các “khổ chủ” phải trải qua rất nhiều công đoạn, với rất nhiều rủi ro pháp lý, họ có thể thắng kiện. Nhưng từ khi thắng kiện, với bản án có hiệu lực pháp luật trong tay đến khi thu hồi được tài sản, bù đắp được tổn thất còn là một quảng đường khá xa. Trước khi đi vào phân tích chi tiết, chúng ta có thể hình dung tổng quan về bức tranh này qua kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố tại Hội thảo “Luật thi hành án dân sự – Góc nhìn từ doanh nghiệp” do VCCI phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 10/3/2014. “Đó là, tỷ lệ thành công khi thuê “xã hội đen” thu hồi nợ cao đến 90% và thời gian chỉ từ 15 đến 30 ngày, trong khi đó nếu sử dụng phương án khởi kiện tại tòa và cơ quan thi hành án, thì hiệu quả thu hồi chỉ khoảng 50% và thời gian kéo dài tới… 400 ngày.…

Khi sử dụng phương án khởi kiện tại tòa án và cơ quan thi hành án, chủ nợ phải bỏ ra khoản chi phí bằng 20 – 30% khoản nợ nhưng chưa kể tiền lót tay và các khoản chi phí không chính thức khác. Còn nếu sử dụng “xã hội đen”, chi phí bỏ ra khoảng chiếm 40 – 70% khoản nợ, và không có chi phí phụ nào. Còn với một phương án thu nợ khác là thuê các dịch vụ thu nợ hợp pháp, thì thời gian trung bình khoảng 60 – 90 ngày, tỷ lệ thành công 70 – 80%’’.

* Rủi ro từ vi phạm thời hạn luật định trong công tác thi hành án

Cũng tại hội thảo nêu trên, có ý kiến nhận định rằng, một trong những nguyên nhân căn bản của chất lượng thi hành án còn kém hiệu quả là do hệ thống pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nhiều chế tài mơ hồ, rườm rà. Còn theo một ý kiến khác, thì: “khuyết điểm lớn nhất của Luật Thi hành án là nhiều thủ tục không có thời hạn xác định…”; “việc vi phạm thời hạn luật định trong công tác thi hành án diễn ra rất phổ biến nhưng lại thiếu chế tài xử lý. Chính điều này đã làm cho không ít doanh nghiệp chịu thiệt hại nặng nề do thu hồi nợ chậm và phát sinh nhiều chi phí phụ”.

Sự rườm rà trong Luật Thi hành án dân sự còn liên quan trực tiếp đến khởi động việc thi hành án, làm dừng và thay đổi nội dung bản án, quyết định của tòa án. Riêng tòa án phải ra tới 12 loại văn bản, trong đó có tới 17 quyết định về thi hành án dân sự.

Ngoài ra, còn có rủi ro từ nghĩa vụ bên được thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nhất là việc xác minh tại các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tín dụng… và cung cấp cho cơ quan thi hành án. Đây là điều khó vì việc xác minh điều kiện thi hành án của một doanh nghiệp hiện nay là điều dường như không thể hoặc phải tốn rất nhiều chi phí “mua tin”.

* Rủi ro do bên thua kiện đã tẩu tán tài sản trước thời điểm nộp đơn khởi kiện

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ trong vụ án hình sự hoặc trong thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp mới có các quy định ngăn chặn việc tẩu tán tài sản trước khi khởi tố vụ án hình sự hoặc trước khi mở thủ tục phá sản doanh nghiệp. Còn trong BLDS, BLTTDS, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đều chưa có quy định ngăn chặn việc tẩu tán tài sản trước khi đơn khởi kiện được thụ lý. Bởi vậy, nếu một trong các bên đối tác của hợp đồng có ý đồ gian lận, thì họ có thể tẩu tán tài sản trước cả khi tòa án thụ lý đơn khởi kiện và nguyên đơn vô phương ngăn chặn việc tẩu tán này. Bởi theo quy định hiện hành, chỉ sau khi nộp đơn, nguyên đơn mới có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, bao gồm biện pháp ngăn chặn tẩu tán tài sản, nhằm bảo đảm thi hành án khi thắng kiện. Còn đối với giao dịch nhằm tẩu tán tài sản liền trước khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thì vẫn được pháp luật Việt Nam thừa nhận giá trị pháp lý. Bởi vậy, nếu bị đơn nhanh tay tẩu tán hết tài sản, trước khi nguyên đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì khi nguyên đơn thắng kiện, bản án có hiệu lực pháp luật, tài sản của bị đơn đã không còn gì đáng giá để có thể trả nợ cho nguyên đơn; nguyên đơn thắng kiện, mất chi phí, thời gian theo đuổi vụ kiện, nhưng không thu hồi được bất kỳ tài sản nào.

* Rủi ro do sự vênh nhau giữa các văn bản pháp luật

Trong một số trường hợp, một hợp đồng liên quan đến một tài sản đồng bộ, nhưng các văn bản pháp luật khác nhau đưa ra các hướng giải quyết khác nhau dẫn tới tình trạng không thể xử lý được tài sản liên quan. Một trong số này là sự vênh nhau giữa quy định về thời điểm thay đổi quyền sở hữu nhà theo Luật Nhà ở năm 2014 và thời điểm thay đổi quyền sử dụng đất ở theo Luật Đất đai năm 2013. Luật Nhà ở trọng “dung” (nội dung) và lấy mốc là thời điểm hoàn thành hợp đồng chuyển quyền, tặng cho, góp vốn; trong khi Luật Đất đai lại trọng “thức” (hình thức) lại lấy mốc là hoàn thành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính.

Cụ thể, khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp góp vốn, tặng cho, đổi nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu là kể từ thời điểm bên nhận góp vốn, bên nhận tặng cho, bên nhận đổi nhận bàn giao nhà ở từ bên góp vốn, bên tặng cho, bên đổi nhà ở”.

Trong khi đó, khoản 1 và khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “1. Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.

7. Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính”.

Chính sự vênh nhau về thời điểm chuyển quyền sở hữu nên trong thực tế có thể diễn ra trường hợp: B nhận chuyển nhượng nhà gắn liền với đất ở từ A và trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng này, B dùng tài sản là căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng C, hoặc chuyển nhượng tiếp cho D mà trước đó chưa làm thủ tục đăng ký đất đai vào sổ địa chính. Khi đến hạn, B không trả được nợ; dẫn tới khi ngân hàng C làm thủ tục phát mãi căn nhà này thì cơ quan thi hành án từ chối cưỡng chế thi hành vì lý do: nhà đã thuộc sở hữu của B theo quy định của Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014, nhưng quyền sử dụng đất thì vẫn thuộc sở hữu của A; và chỉ có thể cưỡng chế được khi A và B phối hợp với nhau để hoàn tất nốt thủ tục đăng ký đất đai theo khoản 7 Điều 95. Do không còn lợi ích liên quan, A không có lý do gì phải phối hợp với B; B thì sẽ bị phát mãi nhà và đất nên cũng không có động lực phối hợp với A.

*Chi phí kiện tụng lớn hơn lợi ích được bù đắp

Khác với các hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế giới, hiện nay, BLDS và BLTTDS của Việt Nam xây dựng dựa trên nguyên tắc: bên thắng kiện chỉ được trả lại những gì mình đáng được hưởng nếu không có tranh chấp xảy ra, chưa tính đến bù đắp những phí tổn không đáng có mà bên thắng kiện đáng lẽ không phải gánh chịu nếu không có tranh chấp xảy ra. Điều này dẫn tới, trong nhiều trường hợp nguyên đơn thắng kiện, nhưng tính về tổng thể vẫn hao tài, thiệt thân.

Khi thắng kiện, người thắng kiện chỉ được nhận lại giá trị tương ứng với giá trị tranh chấp. Nhưng để thắng kiện, thân chủ ít khi tự mình bỏ ra thời gian hai năm theo đuổi các cấp xét xử, mà thường phải thuê luật sư. Trong trường hợp thân chủ là người có kiến thức pháp lý và có đủ thời gian để tự mình trực tiếp theo đuổi vụ kiện, thì tiền công lao động của họ tương ứng với thù lao luật sư nêu trên cũng sẽ không được tòa án tính đến để bù đắp.

Điều này có nghĩa, ngay cả trong trường hợp thắng kiện, một khi tranh chấp xảy ra, người thắng kiện vẫn bị tổn thất không đáng có, bị mất đi gián tiếp ước tính từ 10% – 30% giá trị tranh chấp từ chi phí kiện tụng.

Điều này lý giải cho hiện trạng thường thấy ở Việt Nam, là nếu giá trị tranh chấp dưới 20 triệu – dưới mức sàn chi phí thuê luật sư – thì ít ai khởi kiện, mà sẽ từ bỏ quyền đòi nợ, nếu như các phương thức phi tố tụng không có hiệu quả.

Để bảo đảm công bằng, răn đe kẻ chây ỳ và khuyến khích bên làm ăn chính đáng khởi kiện các vụ án, thì các hệ thống pháp luật tiên tiến trên thế giới thường buộc bên thua kiện phải gánh chịu chi phí luật sư, kiện tụng cho bên thắng kiện. Do vậy, dù giá trị tranh chấp rất nhỏ thì các đối tác cũng không dám chây ỳ, vì nếu để xảy ra kiện tụng thì bên chây ỳ sẽ phải gánh chịu phí luật sư lớn hơn rất nhiều lần giá trị tranh chấp. Hay nói cách khác, khoản phí luật sư này làm cho bên chây ỳ phải đối mặt với rủi ro rất lớn nếu thua kiện.

Còn ở Việt Nam, những kẻ chây ỳ gần như không phải trả giá gì đáng kể khi thua kiện, ngoài án phí – vốn ít có ý nghĩa răn đe nếu giá trị tranh chấp nhỏ.

- Các khuyến nghị chính sách

Phân tích ở phần trên cho thấy, hiện tượng bội tín không chỉ liên quan bản thân luật hợp đồng, mà còn liên quan đến một loạt các chế định liên quan: thời hiệu khởi kiện ngắn, thiếu vắng chế tài hình sự đối với kẻ không trung thực, hiệu quả thi hành án thấp, chi phí kiện tụng không được bù đắp…

Bổ sung chế tài hình sự, sửa đổi các tội danh liên quan đến hành vi giả mạo chứng cứ, khai báo gian dối

BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 chưa chú trọng thích đáng đến việc bảo vệ tư hữu nói chung và bảo vệ chống lại các hành vi xâm hại công lý trong tố tụng dân sự. Sự tụt hậu này cần được khắc phục để bảo đảm công lý, duy trì quyền uy cho tòa án trong tố tụng dân sự, và trực tiếp trừng phạt những hành vi gian dối, phỉ báng tòa án.

Cụ thể, Dự thảo BLHS sửa đổi cần điều chỉnh như sau:

* Sửa đổi, bổ sung Điều 266 BLHS năm 1999/ Điều 353 Dự thảo sửa đổi BLHS

Bổ sung tài liệu của doanh nghiệp, cá nhân vào đối tượng bị xâm hại của hành vi phạm tội vào Điều 266 BLHS năm 1999/ Điều 353 Dự thảo sửa đổi BLHS. Theo đó Điều 266/ Điều 353 Dự thảo sửa đổi BLHS cần đổi thành: “Tội sửa chữa, sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân” và nội dung cần sửa đổi tương ứng thành: “Người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

* Bổ sung tội danh “Vi phạm lời khai tuyên thệ tại phiên tòa dân sự, trọng tài thương mại, hành chính”

Để chống lại việc các đương sự có thể khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả mạo trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính gây khó khăn cho tòa án khi tìm hiểu sự thực, dẫn tới kết quả xét xử bị sai lệch; đồng thời bảo đảm nguyên tắc “một người không bị buộc đưa ra lời khai buộc tội lại chính mình” trong tố tụng hình sự, cần bổ sung Điều 396 vào Dự thảo sửa đổi BLHS tội danh “Vi phạm lời khai tuyên thệ tại phiên tòa dân sự, trọng tài thương mại, hành chính”. Theo đó: “Người nào được tòa án, tòa trọng tài yêu cầu thực hiện lời khai tuyên thệ mà cố tình khai gian dối mà biết rõ là sai sự thật thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Thay đổi nguyên tắc, mốc tính thời hiệu khởi kiện hợp đồng trong BLDS

Hiện nay, thời hiệu khởi kiện về hợp đồng ngắn, chỉ là hai năm, nên có nhiều điểm không phù hợp với tập quán kinh doanh ở Việt Nam, góp phần khuyến khích sự chây ỳ, vì nếu họ chây ỳ sau hai năm và không bị khởi kiện thì họ đã thành công, tự động được miễn trừ nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo Điều 429 BLDS năm 2015, vì bên bị vi phạm hết quyền khởi kiện.

* Không chỉ kéo dài thời hiệu nói chung, Điều 429 cần phải thay đổi dựa vào ba nguyên tắc:

Thứ nhất, cần giảm bớt gánh nặng, rủi ro cho bên có quyền; gia tăng cơ hội áp dụng chế tài với kẻ chây ỳ, vi phạm hợp đồng. Bởi vậy, cần quy định mốc khách quan “khi quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm hại” sang mốc nguyên đơn ý thức được sự xâm hại này.

Thứ hai, khi bên có quyền chưa từ bỏ quyền, thì cần được hiểu là quyền vẫn thuộc về họ; họ vẫn còn quyền khởi kiện. Triết lý này đã được áp dụng rộng rãi trong các hệ thống pháp luật tiên tiến; trong công pháp quốc tế khi xem xét thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu.

Thứ ba, thời hiệu khởi kiện vẫn được duy trì để bảo đảm an toàn pháp lý (legal peace); nhưng phải đặt trong mối tương quan với lợi ích của bên có quyền.

Bổ sung bên thua kiện phải chịu phí luật sư, chi phí nhắc nợ, xác nhận nợ và Luật Chi phí tố tụng

Hiện nay, khi một bên chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc có tranh chấp về lợi ích tư, nếu bị khởi kiện ra tòa và bị thua kiện, thì họ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ vốn dĩ thuộc về họ, trả lại những gì không thuộc về họ mà không phải chịu tổn thất nào đáng kể ngoài án phí. Trong khi nguyên đơn phải mất rất nhiều công sức bắt đầu từ những giấy tờ nhắc nợ, đàm phán, thương lượng… đặc biệt là chi phí luật sư. Theo chúng tôi, nên xây dựng Pháp lệnh Án phí, lệ phí tòa án thành luật, mang tên “Luật Chi phí tố tụng” trong đó:

– Mở rộng phạm vi áp dụng sang cả tố tụng trọng tài, trừ khi Luật Trọng tài thương mại có quy định khác;

– Ấn định chi phí bên thua kiện phải trả cho mỗi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ từ bên thắng kiện;

– Yêu cầu bên thua kiện trong tố tụng dân sự, tố tụng trọng tài thương mại phải chịu chi phí luật sư; cách tính tương tự như án phí, nhưng mức tối thiểu phải từ 15 triệu VND khi tranh chấp được giải quyết tại thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 triệu đối với các địa bàn còn lại.

Bổ sung các giải pháp chống tẩu tán tài sản

Để bảo đảm thi hành án sau khi có kết quả giải quyết tranh chấp dân sự, Chương III BLTTDS (Thẩm quyền của tòa án) cần phải bổ sung các giải pháp chống tẩu tán tài sản tương tự như trong thủ tục phá sản (theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2014) và trao cho tòa án thẩm quyền tuyên bố vô hiệu những giao dịch nhằm tẩu tán tài sản trong thủ tục tố tụng dân sự.

Nếu Điều 59 Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2014 áp dụng chế tài tuyên bố vô hiệu đối với các giao dịch trong vòng 6 và 18 tháng trước ngày tòa án mở thủ tục phá sản, thì trong tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, cần lấy mốc là thời điểm tòa án, tòa trọng tài thụ lý đơn khởi kiện.

Theo chúng tôi, nên chia hành vi tẩu tán thành hai nhóm tùy theo mức độ rõ ràng của dấu hiệu tẩu tán tài sản. Đối với nhóm có dấu hiệu rõ ràng thì phạm vi bị tuyên bố vô hiệu mở rộng đối với các giao dịch có dấu hiệu tẩu tán là 18 tháng; đối với nhóm chưa có dấu hiệu rõ ràng là 06 tháng trước ngày tòa án sơ thẩm, tòa trọng tài thụ lý vụ việc.

Xã hội hóa hoạt động thi hành án

Từ những thành công của chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, chúng ta thấy, xã hội hóa hoạt động thi hành án là hoàn toàn cần thiết và cấp bách để tạo nên cơ chế cạnh tranh trong hoạt động này, loại bỏ tham nhũng, trì trệ trong công tác thi hành án hiện nay. Để xã hội hóa hoạt động thi hành án, cần thực hiện một số giải pháp sau:

– Sửa đổi Luật Thi hành án dân sự, cho phép áp dụng rộng rãi chế định thừa phát lại. Không nên tách thành luật thừa phát lại riêng mà ngược lại, cần quy định trong một luật chung để nếu có sự bất bình đẳng giữa thừa phát lại và cơ quan thi hành án dân sự hiện nay, thì sự bất bình đẳng đó khó bị che giấu.

– Khắc phục sự thiếu hợp lý giữa cơ quan thi hành án với văn phòng thừa phát lại: Cần trao cho văn phòng thừa phát lại tất cả các quyền mà cơ quan thi hành án hiện có. Lúc đó, cơ quan thi hành án dân sự sẽ phải thay đổi từ thái độ “bề trên” thành một chủ thể phải tham gia cạnh tranh, tìm kiếm khách hàng trong cùng một khuôn khổ pháp luật và quyền năng giống nhau.

– Việc thi hành án có thể liên quan đế nhiều chủ thể, nhiều bất động sản tại nhiều địa phương khác nhau, vì vậy cần loại bỏ rào cản về địa hạt đối với hoạt động thi hành án của các văn phòng thừa phát lại (hoặc văn phòng thi hành án). Bên cạnh đó, giải pháp này còn góp phần loại bỏ những tiêu cực liên quan đến phân định địa hạt tống đạt giấy tờ giữa các văn phòng thừa phát lại; tạo ra sự cạnh tranh lớn hơn; cho phép hình thành những thương hiệu thừa phát lại mạnh, có chi nhánh trên toàn quốc

 

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Hỗ trợ trực tuyến

ĐIỆN THOẠI HẸN GẶP
 LUẬT SƯ TƯ VẤN:
0972238006 (zalo, viber)
Hỗ trợ trực tuyến:
Skype: Skype
0972238006 (zalo-viber)
Thừa kế là gì, di sản thừa kế là gì, cách xác định di sản thừa kế
THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CHO THUÊ NHÀ ĐẤT
Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Công Ty
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn
Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Nhà Đất
luật sư ly hôn
Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng
Hợp Đồng Tặng Cho Tài Sản Nhà Đất
luật sư tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp
luat su rieng cho cong ty
luật sư doanh nghiệp
luat su nha dat
luật sư doanh nghiệp
luật sư trả lời đài truyền hình
luật sư trả lời báo chí
Trang chủ | Luật sư chuyên giải quyết thuận tình ly hôn tại tphcm | Luật sư chuyên đại diện ủy quyền ly hôn | Luật sư chuyên soạn thảo các loại hợp đồng | Luật sư ly hôn tại Tân Bình, Gò Vấp | Luật sư chuyên đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án | Văn phòng luật sư tư vấn | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất với người nước ngoài | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất cho việt kiều tại sài gòn | Luật sư chuyên khởi kiện tranh chấp thừa kế | Luật sư chuyên khởi kiện thu hồi nợ | Luật sư chuyên làm giấy tờ nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi tại thành phố hồ chí minh | Dịch vụ sang tên sổ đỏ sổ hồng | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng | Tư vấn người nước ngoài ly hôn với người việt nam | Luật sư giỏi về thừa kế tại tphcm | Luật sư tư vấn luật đất đai | Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại trong vụ án hình sự | Luật sư chuyên tư vấn chia tài sản sau khi ly hôn | Luật sư pháp chế doanh nghiệp | Phí thuê luật sư ly hôn tại tphcm | Tư vấn thủ tục nhận thừa kế nhà đất | Luật sư cho việt kiều và người nước ngoài | Luật sư giỏi chuyên tố tụng | Luật sư cho công ty tại quận 6, bình tân | Luật sư cho công ty tại quận 5, quận 11, quận 10 | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho thuê | Luật sư chuyên nhà đất quận 9, quận 12 | Luật sư tư vấn cho cá nhân | Luật sư chuyên soạn thảo, review hợp đồng | Luật sư chuyên bào chữa các vụ án hình sự | Luật sư tại thành phố Thủ Đức | Luật sư tư vấn vu khống nói xấu xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên facebook | Luật sư tư vấn soạn thảo văn bản, hợp đồng | Luật sư tư vấn soạn đơn khởi kiện | Luật sư hình sự tại thành phố hồ chí minh | Luật sư nhà đất tại thành phố thủ đức | Luật sư chuyên tư vấn bào chữa tội lây lan dịch bệnh | Luật sư tư vấn cho người lao động nghỉ việc vì covid | Việt kiều có được hưởng thừa kế nhà đất tại việt nam không? | Luật sư chuyên giải quyết tranh chấp mua bán nhà đất | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà mùa covid | Luật sư tư vấn phân chia tài sản chung của vợ chồng | Luật sư tư vấn thu hồi công nợ | Tranh Chấp Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Làm Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Lại Nhà Cho Ở Nhờ | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà | Luật sư tư vấn mua bán nhà đất | Luật sư tư vấn hợp đồng vô hiệu | Tư vấn hợp đồng giả cách | Luật Sư Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai | Tư Vấn Tranh Chấp Ly Hôn | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Nhanh Trọn Gói | Tư Vấn Chuyển Nhượng Cổ Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Hộ Doanh Nghiệp | Luật Sư Giải Quyết Ly Hôn Nhanh Tại Tphcm | Tư Vấn Kiện Đòi Nợ | Luật Sư Tranh Chấp Nhà Ở | Luật Sư Chuyên Soạn Đơn Khởi Kiện/Khiếu Nại | Luật sư tư vấn soạn đơn ly hôn | Luật Sư Tư Vấn Thành Lập Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Tại Công Ty | Luật Sư Chuyên Nhà Đất Tại Quận 6, Bình Tân, Bình Chánh | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nuôi Con Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Hoa Tại tphcm/Hoa Kiều | Luật Sư tư Vấn Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Úc, Mỹ, Canada | Luật Sư Tư Vấn Luật Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Công Chứng Khai Nhận Thừa Kế | Văn Phòng Luật Sư Tư Vấn Chia Tài Sản Khi Ly Hôn | Luật Sư Tư Vấn Bất Động Sản | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Tại Quận 6 | Luật Sư Tranh Chấp Kinh Doanh Thương Mại | Luật Sư Chuyên Đại Diện Ủy Quyền Tại Tòa Án | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Tân | Luật Sư Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Gò Vấp | Luật Sư Hình Sự Tại Biên Hòa | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Quận 10, Quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Cố Phần Vốn Góp | Luật Sư Bảo Vệ Bào Chữa Tại Trung Tâm Trọng Tài | luật sư trả lời phỏng vấn báo chí truyền thông | Luật Sư Quận Tân Phú | Luật Sư Quận Phú Nhuận | Luật Sư Quận Gò Vấp | Dịch Vụ Hợp Thức Hóa Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Chánh | Luật Sư Chuyên Khởi Kiện Án Hành Chính | Luật Sư Tư Vấn Lấn Chiếm Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Chuyển Nhượng Đất | Tư Vấn Cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Phân Chia Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Cho Công Ty Bất Động Sản | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Đất Đai Tại Bình Chánh | Luật Sư Bào Chữa Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ngoài Giờ | Tranh Chấp Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đòi Lại Tài Sản | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Đứng Tên Dùm Nhà Đất | Luật sư chuyên tư vấn doanh nghiệp | luật sư chuyên thuận tình ly hôn cho việt kiều/người nước ngoài | Luật sư tư vấn đơn phương ly hôn với việt kiều | Tư vấn ly hôn chia tài sản với việt kiều | Luật sư tư vấn kháng cáo | Luật sư chuyên về tranh chấp đất đai tại tphcm | Luật sư cho ca sĩ, diễn viên | Tư vấn thay đổi trụ sở, giấy phép công ty | Luật sư tư vấn tranh chấp nhà thuộc sở hữu chung | Luật sư tư vấn lập di chúc | Luật sư giỏi về hình sự tại thành phố hồ chí minh | Luật sư giỏi về nhà đất tại tphcm | Luật sư giỏi di chúc thừa kế tại tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp nhà chung cư | Luật sư giỏi về hình sự tại sài gòn | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng góp vốn | Luật sư chuyên thừa kế di chúc | Luật sư chuyên tranh chấp vay tiền | Luật sư tư vấn luật đất đai | Kê khai thừa kế | tư vấn công chứng mua bán nhà đất | luật sư tư vấn thành lập công ty | luật sư chuyên tư vấn ly hôn chia tài sản | dịch vụ luật sư di sản thừa kế | Dịch vụ luật sư nhà đất tại TPHCM | luật sư quận 1 | luật sư quận 2 | luật sư quận 3 | luật sư quận 4 | luật sư quận 5 | Luật Sư Tại Quận 6 | luật sư quận 7 | luật sư quận 8 | luật sư quận 9 | Luật sư quận 10 | Luật sư quận 11 | luật sư quận 12 | Luật sư quận bình thạnh | Luật sư huyện bình chánh | Luật sư huyện Nhà Bè | luật sư huyện hóc môn | Văn phòng Luật sư Nhà Đất | Luật sư huyện Cần Giờ | Văn phòng luật sư tại TPHCM | Luật Sư Tại Sài Gòn | luật sư việt nam | Luật sư Uy Tín | Luật sư Công Ty | luật sư tư vấn ly hôn tại thủ đức | Luật sư chuyên tranh chấp thừa kế | luật sư bào chữa tại tòa án | luật sư quận bình tân | Dịch thuật công chứng tại tphcm | luật sư giỏi và uy tín | luật sư tư vấn tại nhà | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán nhà đất | mẫu hợp đồng mua bán nhà | mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán nhà | luật sư chuyên hình sự | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư chuyên nhà đất | luật sư chuyên về khiếu nại, khởi kiện | luật sư giỏi về nhà đất | luật sư chuyên hợp đồng kinh tế | luật sư tư vấn hợp đồng mua bán hàng hóa | luật sư tư vấn tại bình dương | luật sư tại biên hòa đồng nai | Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn | Luật Sư tư vấn tại Long An | Luật sư tư vấn tại cần thơ | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Làm Chứng | Tư Vấn Công Chứng Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Cho Người Nước Ngoài | Luật Sư Riêng Cho Công Ty | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Về Thuế Kế Toán | Tư Vấn Công Chứng Tại Nhà | Luật Sư Thừa Kế Tại Tphcm | Tư Vấn Luật Cho Việt Kiều Mỹ | Luật Sư Tư Vấn Cho Việt Kiều Mua Nhà Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Thành Phố Hồ Chí Minh | Luật Sư Tư Vấn Luật Lao Động | Luật Sư Riêng Cho Các Doanh Công Ty Tại Sài Gòn | Luật Sư Quận Tân Bình | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | luật sư riêng cho các công ty | luật sư tư vấn thừa kế nhà đất cho việt kiều | luật sư riêng cho công ty nước ngoài tại việt nam | Đoàn luật sư tphcm - VPLS Gia Đình | Tư vấn chia tài sản khi ly hôn | luật sư tư vấn tranh chấp tại toà án | ly hôn có yếu tố nước ngoài | luật sư bào chữa tại tòa án tphcm | luật sư bào chữa tại tòa án quận 1 | tin tức nóng | luật sư bào chữa tại tòa án quận 3 | Luật sư tư vấn bảo hiểm nhân thọ | luật sư bào chữa tại tòa án quận 5 | luật sư bào chữa tư vấn tội cưỡng đoạt tài sản | luật sư bào chữa tại tòa án quận 7 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 8 | Luật sư chuyên tranh chấp nhà đất quận 9, quận 2 | luật sư bào chữa tại tòa án quận 10 | luật sư tư vấn bào chữa tội tham ô | luật sư bào chữa tại tòa án quận 12 | luật sư bào chữa tại tòa án tân bình | luật sư bào chữa tại tòa án bình chánh | luật sư bào chữa tại tòa án bình tân | luật sư bào chữa tại tòa án tân phú | luật sư bào chữa tại tòa án phú nhuận | luật sư bào chữa tư vấn tội cố ý gây thương tích | Luật sư tư vấn về xây dựng/luật xây dựng | Luật Sư Chuyên Về Di Chúc | luật sư bào chữa tại tòa án bình thạnh | Tư vấn du học xin visa | Luật sư tranh chấp nhà đất | Luật sư tư vấn di chúc | Luật sư tư vấn thương mại | luật sư tranh tụng tại tòa án | luật sư tư vấn hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất | luật sư chuyên tư vấn hợp đồng thuê nhà | Văn Phòng Luật Sư Chuyên Hình Sự Tại Tphcm | Luật sư chuyên tranh chấp hợp đồng | Luật sư tranh chấp bất động sản | Văn phòng luật sư doanh nghiệp | Luật Sư Bào Chữa Tại TPHCM | Luật sư tư vấn hợp đồng vay tiền | Thủ tục tuyên bố 1 người tâm thần | Luật sư tư vấn tranh chấp công ty | luật sư tư vấn thu hồi nợ | luật sư tư vấn thuận tình ly hôn | luật sư tư vấn đơn phương ly hôn | Luật sư tư vấn tranh chấp đất đai | Dịch vụ luật sư làm sổ hồng sổ đỏ | Luật Sư Tố Tụng | Dịch Vụ Luật Sư Ly Hôn Nhanh | Luật sư tư vấn ly hôn tại quận 5, quận 11 | Luật Sư Tư Vấn Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng | luật sư tư vấn thừa kế theo di chúc | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế quận 6, quận 11, quận 10, quận 5 | Luật sư thừa kế tại quận 1, quận 2, quận 3, quận 4, quận 7 | Luật sư tư vấn phân chia thừa kế tại quận 8, quận 9, quận 12 | Luật sư phân chia thừa kế tại bình chánh, Tân Phú, Bình Thạnh, nhà bè | Luật Sư Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Thừa Kế Tại Quận 5 | Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự, ly hôn, thừa kế, nhà đất, doanh nghiệp | Luật sư tư vấn bào chữa tội đánh bạc/đá gà/lô đề/cá độ | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Mua Bán Nhà | Tư Vấn Công Chứng Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Kinh Doanh | Luật Sư Tư Vấn Soạn Thảo Hợp Đồng | Thừa Kế Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Đòi Lại Nhà Đất | Dịch Vụ Luật Sư Thu Hồi Nợ Khó Đòi | Tranh chấp Cổ Đông/Nội Bộ Công Ty | Khởi Kiện Bồi Thường Danh Dự Nhân Phẩm | Luật Sư Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Nhà | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khởi Kiện | Luật Sư Hôn Nhân Gia Đình | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng Góp Vốn | Tranh Chấp Tài Sản Chung Của Vợ Chồng | Luật Sư Giỏi Uy Tín Tại Việt Nam | Luật Sư Tại Sài Gòn Việt Nam Tư Vấn Cho Việt Kiều | Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Trọng Tài | Dịch Vụ Thành Lập Công Ty Trọn Gói Tại Tphcm | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Doanh Nghiệp | Tổng Đài Tư Vấn Pháp Luật | Luật Sư Tư Vấn Mua Nhà Đang Thế Chấp Ngân Hàng | Quyền Thừa Kế Nhà Đất Người Việt Nam Định Cư Ở Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn Tặng Cho Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Đứng Tên Dùm Nhà Đất/Căn hộ Chung Cư | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Cho Việt Kiều | Luật Sư Tư Vấn Mua Bán Căn hộ | Văn Bản Thỏa Thuận Tài Sản Của Vợ Chồng | Tư Vấn Pháp Luật Thừa Kế | Luật Sư Tư Vấn Trọn Gói Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Bình Thạnh, Bình Tân, Quận 6, Gò Vấp | Luật Sư Sài Gòn Chuyên Bào Chữa Ở Miền Tây | Dịch Vụ Luật Sư Đòi Nợ | Luật Sư Tư Vấn Mua Đất Nền | Luật Sư Tư Vấn Đơn Phương Ly Hôn Tại Quận 6 | Luật Sư Chuyên Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Với Người Nước Ngoài | Tranh Chấp Hợp Đồng Mua Bán Đất | Thành Lập Chi Nhánh/Văn Phòng Đại Diện | Luật Sư Tư Vấn Công Ty Cổ Phần | Luật Sư Chuyên Tư Vấn Khai Di Sản Thừa Kế | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Thừa Kế Nhà Đất Tại Biên Hòa | Tranh Chấp Hợp Đồng Thuê Nhà | Điều Kiện Việt Kiều Mua Nhà Sài Gòn | Tư Vấn Bồi Thường Khi Bị Thu Hồi Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Nội Bộ Gia Đình/Doanh Nghiệp | Luật Sư Chuyên Tranh Chấp Mua Bán Căn Hộ Chung Cư | Các Video Luật Sư Trần Minh Hùng Trả Lời Trên Đài Truyền Hình HTV Và THVL | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lao Động | Luật Sư Tư Tranh Chấp Mua Bán Đất Nền | Luật Sư Tại Chợ Lớn | Luật Sư Tư Vấn Về Án Phí | Tư Vấn Khởi Kiện Tranh Chấp Đất Đai | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Hợp Đồng Đặt Cọc | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Ranh Giới Đất | Luật Sư Tư Vấn Tranh Chấp Lối Đi Chung | Luật sư tư vấn giữ quốc tịch cho việt kiều | Luật sư tư vấn xác nhận nguồn gốc việt nam | Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn cho việt kiều | Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn tại sài gòn việt nam | Luật sư tư vấn kiện đòi nhà cho việt kiều | Dịch vụ luật sư nhà đất dành cho việt kiều | Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn tại việt nam | Luật sư chuyên bào chữa cho bị can bị cáo | Luật sư tư vấn đơn phương ly hôn và thuận tình ly hôn | Cần Tìm Thuê Luật Sư Giỏi Tại Tphcm | Luật sư tư vấn ly hôn nhanh tại bình tân, quận 6 | Luật sư tư vấn luật thừa kế tại tphcm | Làm sao để dành được quyền nuôi con khi ly hôn | Luật sư tư vấn lập vi bằng | Luật sư tư vấn tố cáo vi phạm hình sự | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng do covid corona | Luật sư tư vấn ly hôn đơn phương | Luật sư tư vấn tranh chấp vì dịch virus corona covid 2019 | Luật sư chuyên tranh tụng hình sự | Luật sư tư vấn tranh chấp giáp ranh nhà đất | Luật sư tư vấn kiện hủy giấy chứng nhận sổ hồng/sổ đỏ | Luật sư chuyên bào chữa/tư vấn cho người bị hiếp dâm/trẻ em | Luật sư chuyên tư vấn luật đất đai nhà ở | Luật sư tư vấn thời hiệu khởi kiện thừa kế | Luật sư tư vấn bào chữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | Luật sư chuyên bào chữa hình sự tại tphcm | Luật sư chuyên về kinh tế | Luật sư chuyên tư vấn khởi kiện vụ án hành chính/quyết định hành chính | Luật sư chuyên tư vấn kiện đòi đất | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng mua bán khẩu trang/găng tay y tế | Luật sư tư vấn nhà đất | Luật sư tư vấn làm mới và gia hạn visa - Renew and extend visa | Luật sư tư vấn làm thẻ tạm trú – Renew/extend temporary residence | Luật sư tư vấn giấy phép lao động cho người nước ngoài/Working permit | Luật sư tư vân kết hôn với người nước ngoài | Luật sư chuyên bào chữa tội mua bán sử dụng tàng trữ ma túy | Luật sư tư vấn tranh chấp hợp đồng thuê nhà hàng, khách sạn, mặt bằng | Luật sư tư vấn tranh chấp ranh đất | Luật sư tư vấn luật hình sự | Giới thiệu | VIDEO LS TRẦN MINH HÙNG TƯ VẤN LUẬT TRÊN TRUYỀN HÌNH | Luật Sư | Luật Sư Thừa kế | Thành Công Đạt Được | Luật Sư Riêng Cho Gia Đình Và Doanh Nghiệp | Báo Chí Và Chúng Tôi | Luật Sư Doanh Nghiệp | Luật Sư Nhà Đất | Luật Sư Di Trú | Luật sư Dân sự | Luật Sư Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn | Luật Sư Tranh Tụng | Luật sư tư vấn luật lao động | Văn phòng luật sư tư vấn cho việt kiều | Luật sư Chuyên Kinh Tế | Luật Sư Giỏi Về Hình Sự | Luật Sư Tư Vấn Thừa Kế Nhà Đất | Luật Sư Tư Vấn Thường Xuyên Cho Doanh Nghiệp | Luật Sư Thi Hành Án | Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí | Dịch Thuật Công Chứng | Luật Sư Riêng Cho Công Ty Nước Ngoài | Luật Sư Tư Vấn | Luật Sư Tư Vấn Hợp Đồng | Luật Sư Công Nợ | Luật Sư Chuyên Tranh Tụng Tại Tphcm | Luật Sư bào chữa tư vấn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản | Luật Sư Kinh Nghiệm | Hỏi đáp pháp luật | Văn bản pháp luật | Liên Hệ

  ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

Chúng tôi tư vấn cho tất cả các khách hàng tại quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, tân bình, phú nhuận, Bình Thạnh, bình tân, tân phú, bình chánh... và các tỉnh trong cả nước. Chúng tôi tư vấn tận nhà, tận công ty nếu quý khách có nhu cầu thì liên hệ các luật sư gần nhất địa điểm quý vị đang sinh sống.

Liên hệ Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Quận 6, TP.HCM (bên cạnh Phòng công chứng số 7).

Chi nhánh tại Biên Hòa: 5/1 Nguyễn Du, Quang Vinh, Biên Hoà, Đồng Nai (đối diện Toà án Tp. Biên Hòa).

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, Quận 1.



Luật Sư Trần Minh Hùng, Trưởng văn phòng, điện thoại:

 0972238006 (zalo-viber)- Bàn: 028.38779958

       Để thuận tiện cho quý vị muốn gặp trực tiếp luật sư, vui lòng điện thoại trước cho luật sư khi quý vị đến văn phòng chúng tôi. Trân trọng cảm ơn.




Email: vanphongluatsugiadinh@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net.vn


Giấy phép số: 41.01.1999/TP/ĐKHĐ do Sở tư pháp Tphcm cấp 03/06/2013, chủ sở hữu website: Văn phòng luật sư Gia Đình